#Stats1 ul{margin:0;border:0;padding:0;height:32px;background:url(//goo.gl/ZHG881) no-repeat 0 -34px} #Stats1 li{margin:10px 0;border:0;padding:0 0 0 40px;list-style-type:none} #totalComments{height:32px;background:url(//goo.gl/ZHG881) no-repeat} #totalCount{height:32px;background:url(//goo.gl/ZHG881) no-repeat 0 -68px}

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Ở VỚI MẸ -02-


Giờ điểm báo
18.4
Sáng ngồi mát-xa chân cho mẹ. Đê mê, mẹ  tường thuật chuyện báo đăng.
Sau đây là văn phong của mẹ mình :
- Báo hôm qua đăng có hai cô cậu thương nhau, đi mướn nhà trọ ở chung, vừa học vừa làm, cho đến Đại học. Anh này quần quật làm nuôi cô nọ. Cuối khóa, cô này đỗ trạng nguyên, à luật sư, bấy giờ đòi chia tay. Anh này thương quá, lại mất bao nhiêu công sức cho cô ấy ăn học suốt mấy năm trời, người yêu còn dọa sẽ báo công an nếu anh còn theo đuổi. Một hôm, thấy người yêu đi vào trạm công an, anh bèn mua một con dao đi vào theo tìm giết, cô gái sợ quá chui vào một quán ăn, anh này theo vào chém luôn, chết. Đọc chuyện này mẹ  nhớ ngày xưa, ngoài Bắc có một chuyện giống như vậy, ấy là chuyện cô Cúc. Lúc bấy giờ mẹ chỉ  mười một, mười hai tuổi nhưng nghe người lớn kể thì rất nhớ. Cô Cúc nuôi anh này tên Trường ăn học tử tế, đến khi làm quan huyện thì có bồ, bỏ rơi cô Cúc. Cô Cúc vẫn ra vào phục vụ việc nhà, vẫn yêu thương . Có lần cô Cúc còn thấy cả bồ huyện Trường đến nhà Trường, còn  xua đuổi cô Cúc. Một hôm ( lại một hôm), cô Cúc tìm cách vào được, nói chuyện phải trái không nghe thế là cô Cúc giết huyện Trường luôn. Không nhớ về sau cô Cúc có thắng kiện không  hay là, à cái anh Trường chết rồi còn đâu. Đấy, cứ nuôi người ta ăn học, lúc nó thành tài, không được đáp trả là tức, giết luôn. Nghĩ tức thật ấy chứ, nhưng giả có đứa nào nó không yêu mình thì thôi chứ tôi chả dám giết người. Ghê lắm.
- Chuyện báo viết hay chuyện phim ạ ?
- Chuyện có thật ấy chứ. Mà cũng lạ, con gái ở nhà trọ mấy năm trời mà bố mẹ không biết.
- Chắc nó không có bố mẹ.
- Có đấy, bố mẹ còn khóc thương.
- Con thấy bên Phật người ta gọi  như vậy là có nợ với nhau.
- Ừ nghỉ thôi, tôi đau bụng nãy giờ mà phải nhín vì thích bóp chân.
- Mấy lại phải kể  cho hết  hai câu chuyện .
- Ừ, hai câu chuyện tình (cười). Thôi, ( tay nắm cái khung inox, di chuyển ...vội...)
Cụ vừa lê khung về hướng toa-lét, mình bèn gõ Google tìm hiểu :" Giết người yêu", ra ngay các bạn ạ, sao trí nhớ Cụ tốt thế  nhỉ !

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Ở VỚI MẸ - 01-


17.4.
Để mình kể bạn nghe, mẹ mình rất … sắc xảo. Từ tối hôm qua ở với Cụ , mình đã thu gom được mấy chuyện vui thường ngày.
Chuyện thứ nhất : Cái khăn.
Cụ bảo lấy cho Cụ cái khăn phơi ở chỗ kia. Chưa khô mẹ cất đi làm gì vội.
Ứ thì cứ đưa đây cho mẹ, giăng xa chẳng bằng giăng gần, cũng như sao không lấy chồng gần đi lấy chồng xa. ngay tầm tay khô  cất ngay , có phải tiện không.
Chuyện thứ hai : Bóp chân
Để con bóp chân cho. Ừ, hôm nay phù lắm. Thì mọi ngày vẫn phù thây, tại mẹ uống nhiều loại thuốc khác nhau . Nhưng là cái ông bác sĩ ông ấy cho chứ mình có tự ra toa đâu. Mẹ mà tư ra toa được đã phúc, không học y khoa vẫn làm bác sĩ. Không! Tôi không làm bác sĩ ở Việt Nam, làm bác sĩ ở Mỹ cơ. Ha !
Chuyện thứ ba : Nghễnh ngãng
Mẹ thay tã chứ ? Cái gì ? Mẹ thay tã chưa ? Thì đấy. Đấy là thế nào ạ, mẹ thay tã chưa ? À, thay rồi. Cứ tưởng bảo uống nước đá chưa, đây cái ly mẹ uống hết rồi đây. Tối nên kiêng nước đá mẹ ạ. Cái gì ? Nóng quá, uống đến đâu mát  đến đấy. Nhưng mà phải đi tiểu nhiều lại  mệt. ( Cụ chậc lưỡi, không nói , không biết là nghễnh ngãng không nghe rõ,  hay ý “kệ tôi”). Ỷ có cái tã mà, khôn lắm !
Chuyện thứ tư : Từ từ
Sáng nay mẹ muốn ăn gì ? Từ từ. Gần 7 giờ rồi ạ. Ừ, ăn. Bánh mì ốp-la hay bột ngũ cốc ạ.? Mẹ uống G7 không ạ ? Từ từ. Mọi khi ăn bánh mì trứng mà uống Gờ Bảy vào thì hồi hộp, mệt. Còn ăn bát bột , uống 1 gói không sao. Bánh mì hôm nọ bị đuổi, bây giờ nó vào trong hẻm một tí ấy. Con làm xong ăn ngay cho nóng, nguội mất ngon. Ừ, từ từ.
Mẹ mình năm nay Chín Mốt rồi đấy. Tinh tường chưa các bạn. Cám ơn Chúa.
Chuyện thứ năm : Bà cưng cháu bà
Bà  rất thương cháu cố. Suốt ngày ngắm cháu cố. Lo cho cháu cố hơn ông bà bố mẹ nó lo cho nó. Bà ghét ai chê cháu bà. Bà sót ai làm cháu bà khóc.
Cúp điện, quạt không quay, bà chửi ông nhà đèn làm cháu bà nóng bức, không ngủ được ngon giấc.
Buổi chiều, bà hỏi kỹ từng người trong nhà : Tí nữa ai đón Su ?  Chắc chắn rồi thì nhắc, ừ chuẩn bị đi còn 15 phút nữa.
Bà hay sờ chim thằng Si, cháu Cố gần đầy năm, nó ẩy tay bà ra. Bà cười, con chim như củ lạc.
Chuyện thứ sáu : Không lại bà đâu
Mẹ thằng bé đi chợ, gửi mua cho bà một hộp G7,đây bà đưa tiền. Con bé ngó lên trời, đủng đỉnh thưa dạ con mua cho bà được, nhưng con thấy bà cứ hay nói bà có tiền, thì nếu bà dư tiền không biết làm gì thì bà cho con. Biết bà trả lời sao không ? Bà nói : Con ơi, con nói câu này sao khó nghe quá.
Không sắc xảo sao !

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

ĐỪNG TƯỞNG


Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ trên là sáng cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ nhiều là được cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc không trông là mù
Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang
Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say
Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ
Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần
Đừng tưởng cứ mới là tân
Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh
Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Cứ già là hết hồ đồ
Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền
Đừng tưởng cứ quyết là nên
Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Dưa vàng đừng tưởng đã chua
Sấm rền đừng tưởng sắp mưa ngập trời
Khi vui đừng tưởng chỉ cười
Lúc buồn đừng tưởng chỉ ngồi khóc than.

************
Đừng tưởng cứ nốc là say
Cứ hứa là thật, cứ tay là cầm
Đừng tưởng cứ giặc – ngoại xâm
Cứ bè là bạn, cứ dân là lành
Đừng tưởng cứ trời là xanh
Cứ đất và nước là thành quê hương
Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng
Đừng tưởng chẳng có thì không
Chẳng trai thì gái, chẳng ông thì bà
Đừng tưởng chẳng gần thì xa
Chẳng ta thì địch, chẳng ma thì người
Đừng tưởng chẳng khóc thì cười
Chẳng lên thì xuống, chẳng ngồi thì đi
Đừng tưởng sau nhất là nhì
Gần quan là tướng, gần suy là hèn
Đừng tưởng cứ sáng là đèn
Cứ đỏ là chín, cứ đen là thường
Đừng tưởng cứ đẹp là thương
Cứ xấu là ghét, cứ vương là tình
Đừng tưởng cứ ghế là vinh
Cứ tiền là mạnh, cứ dinh là bền
Đừng tưởng cứ cố là lên
Cứ lỳ là chắc, cứ bên là gần
Đừng tưởng cứ đều là cân
Cứ đông là đủ, cứ ân là nhờ
Đừng tưởng cứ vần là thơ
Cứ âm là nhạc, cứ tờ là tranh
Đừng tưởng cứ vội thì nhanh
Cứ tranh là được, cứ giành thì hơn
Đừng tưởng giàu hết cô đơn
Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo
Đừng tưởng cứ bến là neo
Cứ suối là lội, cứ đèo là qua
Đừng tưởng chồng mẹ là cha
Cứ khóc là khổ cứ la là phiền
Đừng tưởng cứ hét là điên
Cứ làm là sẽ có tiền đến ngay
Đừng tưởng cứ rượu là say
Cứ gió là sẽ tung bay cánh diều
Đừng tưởng tỏ tình là yêu
Cứ thơ ngọt nhạt là chiều tương tư.

****************
Đừng tưởng đi là sẽ chơi
Lang thang dạo phố vào nơi hư người
Đừng tưởng vui thì sẽ cười
Đôi hàng nước mắt lệ rơi đầm đìa
Đừng tưởng cứ mực là bia
Bút sa gà chết nhân chia cộng trừ…
Đừng tưởng cứ gió là mưa
Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve
Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…
Đừng tưởng thu là lá tuôn
Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.
Đừng tưởng cứ thích là yêu
Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng tình chẳng lung lay
Chỉ một giấc ngủ, chẳng may … có bầu.
Đừng tưởng cứ cầu là hên,
Nhiều khi gặp hạn, ngồi rên một mình.
Đừng tưởng vua là anh minh,
Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng tìm bạn tri âm,
Là sẽ có kẻ mạn đàm suốt đêm.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm,
Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.
Đừng tưởng cười nói ân cần,
Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.
Đừng tưởng trong lưỡi có đường
Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười
Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao
Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay
Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần.

****************
Đừng tưởng cứ quỳnh là thơm
Nhìn đi nhìn lại kh6ng hơn cúc quỳ
Đừng tưởng mưa gió ầm ì
Ngày thì đã hết trời về dần đêm
Đừng tưởng nắng gió êm đềm
Là đời tươi sáng dè thêm đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung
Chỉ là lợi dụng lòng tin của người.

**************
Đừng tưởng cứ tiến là lên
Cứ lui là xuống, cứ yên là mằn
Đừng tưởng rằm sẽ có trăng
Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu
Đừng tưởng cứ khóc là sầu
Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nước là trong
Cứ than là hắc, cứ sao là vàng
Đừng tưởng cứ củi là than
Cứ quan là có, cứ dân là nghèo
Đừng tưởng cứ khúc là eo
Cứ lúc là mạc, cứ sang là giầu
Đừng tưởng cứ thế là khôn!
Nhiều thằng khốn nạn còn hơn cả mình
Đừng tưởng lời nói là tiền
Có khi là những oán phiền chưa tan
Đừng tưởng dưới đất có vàng
Vàng đâu chả thấy phí tan cuộc đời

************

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn
Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng,
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.
Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.
Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

 Cảm ơn bạn Phạm Gia Minh gửi cho bài này, không rõ của ai.
(trích Que Choa)

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

SỰ KHÁM PHÁ CỦA TÌNH YÊU



Một giọt nước nếu nhìn bằng mắt thường thì cũng chỉ là một giọt nước, nhưng nếu nhìn bằng kính hiển vi thì lại là cả một thế giới sống động. Một cái hồ nếu được nhìn bởi một người nông dân thì cũng chỉ là một cái hồ, nhưng dưới mắt của một nghệ sĩ thì lại là cả một cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt vời không thể nào tả xiết.
Như thế nghĩa là gì? Nghĩa là cùng một sự việc nhưng có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy những cách nhìn khác nhau. Sự việc đã xảy ra trên hồ Tibêria cũng thế: lúc ấy trời còn tờ mờ tối, Chúa Giêsu phục sinh hiện đến với các tông đồ đang lúc các ông thả lưới đánh cá. Các ông tưởng là ma nên run sợ và định chạy trốn. Riêng có Gioan là nhận ngay ra ấy là Thầy. Do đâu mà Gioan đã nhận định sắc sảo được như thế? Thưa vì Gioan là tông đồ yêu mến Chúa nhiều nhất. Chính Tình yêu đã mở mắt cho Gioan và giúp Gioan thấy được cái mà người khác không thấy. Người ta nói rằng Tình yêu là một năng lực diệu kỳ, làm cho người ta mạnh thêm, có thêm nhiều nghị lực để vượt qua những chướng ngại, chịu đựng những hy sinh và cuộc sống thêm lạc quan.
Điều này thật ra rất bình thường chẳng có gì khó hiểu. Chúng ta thử điểm lại một số kinh nghiệm trong cuộc sống của mình xem. Tại sao khi yêu, người ta thích tặng quà cho nhau? thích chở nhau đi chơi? thích lặn lội mưa nắng đến tìm nhau? Nếu không yêu thì đem số tiền dành dụm để mua một món đồ đưa cho người khác thì quả là dại! Nếu không yêu thì gò lưng đạp xe chở người ta đi chơi thì quả là ngu! Nếu không yêu mà lặn lội mưa nắng đi tìm người ta thì quả là khờ! Phải không? Nhưng khi đã yêu thì tất cả đều đổi khác: Tặng quà là một niềm vui, được chở người ta là một sự sung sướng, lặn lội mưa nắng tìm đến nhau là bằng chứng của cả một tấm lòng thiết tha! Cho nên Thánh Augustinô đã nói rất đúng: "Ubi amatur, non laboratur": khi đã yêu thì không còn biết cực nhọc.
Đối với Chúa cũng thế. Nếu ta không yêu mến Chúa hay yêu mến quá ít thì cầu nguyện là việc chán ngán, đến nhà thờ là một gánh nặng, vác thánh giá là một cực hình. Còn nếu ta yêu Chúa nhiều thì đương nhiên ta thích cầu nguyện, thì đương nhiên ta ham đến nhà thờ, đương nhiên ta sẵn sàng vác những thánh giá hy sinh Chúa gởi đến hàng ngày. Cho nên muốn sống đạo tốt thì cần thiết phải có lòng yêu mến chúa. Yêu mến Chúa nhiều thì hăng say sống đạo tích cực, yêu mến Chúa ít thì ít hăng hái tích cực hơn, và nếu không yêu mến Chúa thì đạo trở thành gánh nặng, làm những bổn phận trong đạo không khác nào con trâu kéo cày.
Lm. Carôlô HỒ BẶC XÁI

TÌNH YÊU VÀ LÝ LUẬN



Bài Tin Mừng tuần trước thuật lại cách mà Tôma đã nhận ra Chúa Giêsu phục sinh: Tôma đã tuyên bố "nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở bàn tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin". Đây là kiểu tin bằng lý luận, nghĩa là chỉ tin khi nào đã có đủ bằng cứng rõ ràng hiển nhiên. Còn bài Tin Mừng tuần này thuật lại cách mà Gioan đã nhận ra Chúa: một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan là tức khắc nhận ra đó là Thầy mình. và Tin Mừng ghi chú "Gioan là người môn đệ Chúa yêu". Chính Tình Yêu đã mở mắt cho Gioan nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra.
Như thế có hai con đường dẫn tới đức tin: Con đường thứ nhất là bằng lý luận để chỉ tin sau khi có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên; và con đường thứ hai là bằng tình yêu, nghĩa là vì yêu thương nên tin ngay không cần thắc mắc lý luận.
Trong vở tuồng "Tiếng hò Sông Hậu" có hai anh em sinh đôi tên Chơn và Chất, giống hệt nhau từ nét mặt, tướng đi đến giọng nói. Trong một cuộc tranh đấu với địa chủ, Chơn bị bắt đày đi Côn Đảo. Nhưng một thời gian sau anh vượt ngục trở về thăm mẹ già khi ấy đã mù lòa cả hai mắt. Trong lúc Chơn đang ở nhà thì tên Hương Quản đến, Chơn nhanh trí giả làm Chất nên không bị lộ, nhưng ngay sau khi tên Hương Quản đi thì bà mẹ mù lòa ấy nói ngay: "Phải mày là thằng Chơn đó không?" Chơn chưa muốn cho mẹ biết nên trả lời "Không, con là thằng Chất đây mà, anh Chơn con còn đang ngồi tù mà". Nhưng bà mẹ nói "thôi mà, con gạt ai được chứ gạt mẹ làm sao được, con chính là thằng Chơn của mẹ mà". Chính tình yêu đã giúp cho người mẹ mù lòa ấy nhận ra con mình trong khi mọi người đều không nhận ra. Trường hợp của Thánh Gioan cũng vậy: trong khi mọi người đều không nhận ra Chúa Giê-su thì chỉ mình Gioan đã nhận ra, vì Gioan yêu thương Chúa nhiều.
Có lẽ vì thường nghe những luận điệu bôi bác niềm tin tôn giáo cho nên chúng ta bị ảnh hưởng và cũng nghĩ rằng chỉ có con đường nhận thức bằng lý luận, với những bằng chứng rõ ràng hiển nhiên là con đường độc nhất đúng. Nhưng chúng ta hãy bình tĩnh suy nghĩ lại xem, trong cuộc sống có bao nhiêu điều chúng ta tin tưởng mà đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên đâu? Rất ít, hầu hết những điều ta tin tưởng là do người khác dạy lại, nói lại cho ta biết, và vì yêu thương những người đó mà ta tin. Chẳng hạn những gì cha mẹ dạy ta khi ta còn nhỏ, những gì thầy cô dạy ta khi ta còn học ở trường. Vốn liếng kiến thức của chúng ta hầu hết là từ hai nguồn đó. Nhưng xét xem những điều ấy ta có được thấy tận mắt, sờ tận tay hay không, hay là khi được dạy thì ta tin ngay, vì ta yêu thương cha mẹ, yêu thương thầy cô mà tin vào lời nói của các đấng ấy. Cho nên xét cho cùng, chỉ trích những người có đạo đã tin không có đủ bằng chứng mà chỉ vì yêu thương mà tin thì là lời chỉ trích không đứng vững. Tác giả vở tuồng "Tiếng hò Sông Hậu" nói trên cũng đâu phải là người có đạo, thế mà tác giả đã đề cao cách nhận thức rất cảm động của một người mẹ nhận ngay ra con mình nhờ vào tình mẫu tử thiêng liêng. Nghĩa là: ai cũng vậy, dù có đạo hay không có đạo, ai cũng có những nhận thức, những niềm tin không hẳn dựa vào những lý luận hiển nhiên mà chỉ dựa vào tình yêu.
Mà xem ra con đường tình yêu lại nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn. Khi các Tông đồ nói cho Tôma hay là Chúa Giê-su đã sống lại, Tôma đã không tin ngay, ông đòi phải thấy tận mắt, sờ tận tay, thậm chí còn đòi thọc cả bàn tay vào vết thương cạnh sườn Chúa. và rồi đang khi các Tông đồ kia vui mừng vì Thầy đã sống lại thì Tôma vẫn còn hoài nghi, ray rứt. Đến 8 ngày sau khi Chúa Giê-su hiện đến một lần nữa thì Tôma mới tin và mới được vui mừng như các ông kia. Còn đối với Gioan, vì yêu Chúa nhiều, nên chỉ vừa thấy bóng dáng lờ mờ của Chúa là Gioan đã nhận ra ngay và đã tin, một niềm tin rất nhanh chóng, rất nhẹ nhàng mà cũng không kém phần vững chắc.
Các bạn trẻ còn ở lứa tuổi hay thắc mắc về đức tin và cũng dễ bị lung lạc bởi những luận điệu bài bác đức tin. Hôm nay, chúng ta đã thấy có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc. Chúng ta hãy cũng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó. Nghĩa là một mặt chúng ta phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt rộng thêm để nhận biết thêm được những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết được, như thánh Gioan trong bài Tin Mừng hôm nay vậy!
Lm. Carôlô HỒ BẶC XÁI

THỦ LÃNH GIÁO HỘI


Câu chuyện truyền kỳ về những ngày sau cùng của một con người đã hết lòng yêu mến Chúa, và đã cảm nghiệm sâu xa ơn thứ tha của Người, được kể lại như sau:
Ông đến Rôma giữa lúc Nêrông đang bắt bớ đạo thánh. Một số người đã chịu tử đạo. Tình thế nguy kịch, nên các tín hữu khuyên ông hãy chạy trốn ra khỏi thành, để còn người duy trì và giữ vững đạo thánh.
Khi ra khỏi cổng, ông gặp một người đang vác thập giá đi vào thành Rôma. Ông lên tiếng hỏi: "Quo vadis?" nghĩa là "Người đi đâu đó?" Người ấy trả lời: "Thầy đi vào Rôma để cho người ta đóng đinh một lần nữa". Ông chợt hiểu, vội vàng quay lại Rôma. Ông nhập vào hàng ngũ các tín hữu sắp chịu cực hình để an ủi họ và giúp họ giữ vững niềm tin. Sau khi chứng kiến các tín hữu bị làm mồi cho thú dữ ăn thịt, bị hoả thiêu trên một rừng thập giá, thì chính ông cũng bị đóng đinh ngược, đầu quay xuống đất, theo lời ông xin, vì nghĩ mình không xứng đáng được đóng đinh như Thầy.
Con người ấy chính là Phêrô, và cái chết ấy đã được Chúa Giêsu tiên báo trong bài Tin Mừng hôm nay: "Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải giương tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa" (Ga 21,18-19).
Vâng, Phêrô một con người rất bộc trực, nóng nảy, hay sa ngã và sa ngã thậm tệ. Có lần Chúa đã gọi ông là Satan, và mới đây nhất, ông đã chối Chúa tới ba lần. Nhưng con người đầy khuyết điểm ấy Chúa đã chọn làm "Đá tảng", thủ lãnh của Giáo Hội. Vai trò lãnh đạo của Phêrô được tỏ rõ trong bài Tin Mừng hôm nay:
Sau biến cố Phục Sinh, các tông đồ trở về đời sống thuyền chài. Phêrô vẫn là người quyết định: "Tôi đi đánh cá đây". Các môn đệ khác cũng đồng tình: "Chúng tôi cùng đi với anh". Đêm ấy, không bắt được con cá nào. Trời sáng, theo lời người khách lạ, thả lưới bên phải mạn thuyền, một mẻ cá bất ngờ. Khi vừa nghe Gioan nói: "Chúa đó!" Phêrô liền nhảy xuống biển, đến với Người. Ông rất nồng nhiệt, năng nổ, hăng hái.
Sau khi Thầy trò đã ăn điểm tâm xong, Người bắt đầu phỏng vấn thủ lãnh Phêrô để trao cho ông sứ vụ mới: "Này anh Simon, con ông Giona, anh có mến Thầy hơn các anh em nầy không?". Thật tình, ông rất ngượng ngùng vì ông mới chối Thầy tới ba lần, mà giờ đây Người lại hỏi ông có yêu mến Thầy không? Mới phản bội mà giờ lại nói yêu thương, quả là rất khó khăn; hơn nữa, Người lại hỏi tới ba lần! Có lẽ Phêrô đang nhớ lại lời Chúa nói trước đây: "Kẻ nào được tha nhiều thì sẽ yêu nhiều hơn" (x. Lc 7,47). Vâng, Chúa đã tha thứ cho Phêrô ngay lúc Người quay xuống nhìn Ông từ trên dinh thượng tế, khiến nước mắt ông tuôn trào.
Ba lần chối Chúa thì ba lần Người cho ông cơ hội để nói lời yêu thương, để tuyên xưng lại niềm tin. Ông đã không bỏ lỡ cơ hội: "Thưa Thầy có, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy". Và cũng ba lần, Người trao cho ông sứ mạng cai quản Hội thánh của Người: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy" (Ga 21,17).
Từ đấy, Phêrô đích thực trở nên thủ lãnh của Giáo hội, chăm sóc đoàn chiên của Thầy, và cuối cùng đã hiến mạng sống vì đoàn chiên. Phêrô đã chịu đóng đinh trên thập giá, để giữ vững niềm tin cho đoàn chiên, và để yêu thương đoàn chiên cho đến cùng, yêu "Như Thầy Đã Yêu".
Lm. Carôlô HỒ BẶC XÁI

CHANTS A NOTRE-DAME





Đây là bìa tập Thánh Ca CHANTS A NOTRE-DAME .
Bìa trong, tập tôi đang giữ, có chữ ký của cố Linh Mục Nhạc sĩ Hoàng Kim :

Ngoài ra, khi nhận tập nhạc này, tôi còn tìm thấy một mảnh bìa nhỏ màu hồng, được kẹp bên trong, có chữ viết tay ghi như sau :
Dom Robert Vion
Chants à Notre- Dame
( đơn sơ, bình dân, giá trị
HK. có vẻ khoái đặt lời Việt vào)
ed. de Fonterielle - Lyon 1958

Với bút tích trên, tuy không biết nét chữ của ai nhưng nếu  được cho biết  rằng Cha Hoàng Kim ( HK.) muốn chuyển ngữ tập nhạc này thì cho tới nay, tôi chưa hề được thấy tác phẩm người lưu lại.
Cùng một nhận xét với bậc Tiền Bối, tôi rất thích ngâm nga những giai điệu giản dị trong Chants a N.D.
Nay mạo muội dựa theo nguyên bản mà viết ra lời Việt một số bài riêng lẻ, còn bài Au pied de la croix  và phần Lần Hạt Mân Côi  trong Thánh ca Việt Nam đã có bản tiếng Việt  quá quen thuộc thì xin  bỏ qua.
Nếu Quý vị nào biết Cố LM.NS.Hoàng Kim  sinh thời đã thực hiện việc chuyển ngữ tập nhạc này,  vui lòng cho bần đạo xin một bản để học hỏi. Đa tạ.
Trang 4
Trang 5


























     





(còn tiếp)

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

CỨ MÃI LÀ MÙA THU


NHT. Không chỉ đơn giản là đồng cảm với tác giả mà mình post một bài nào đó khi lướt web hay khi nhận được bài từ e-mail thân hữu ưu ái gửi cho. Ví dụ như bài này chẳng hạn, nội dung còn như xoáy  lòng, nhắc mình một mơ ước khắc khoải từ lâu nhưng biết khả năng có hạn, không dám mơ tới. Hôm nọ gặp cha Thượng, cha  tên Thượng nhưng là người Kinh, ở lâu với người Dân tộc, bảo cha rủ con đi, đầu cha gật gật, rồi lắc nhẹ, chán nản, không mong hy vọng. Ừ thôi, cha cứ thất vọng, nhưng xin cha đừng nản lâu, có những tâm tư nguyện vọng ở trong lòng Chúa biết và Chúa sẽ chúc phúc cho nó. Bằng cách nào, thưa, Chúa biết phải làm gì. Giả như Chúa không sai con cũng có lý của Chúa nhưng bù lại Chúa nhìn thiện tâm của cha, sẽ ban cho cha 10 HT khác nhiệt tình hơn. Cũng như Chúa sẽ chúc phúc cho những trăn trở của cha Thành. Với quyền năng vô biên của Thiên Chúa, đâu phải cứ mãi là mùa thu ! Mà là Thu thì cũng đẹp, cha Phụng bảo HT. phải ra Hà Nội vào mùa Thu, năm xưa cha Uy bảo chị ra mà nghe hát ru, ối giời thèm quá. Và chúng ta  ước gì tông đồ sẽ bộn như lá mùa thu nhỉ ! Những đôi mắt trẻ thơ  cao nguyên to tròn, đen nhánh và sâu thẳm vẫn luôn trong tâm khảm mình, tương tự như ký ức của cha Thành về chúng. 
Yêu sao !
CỨ MÃI LÀ MÙA THU
(tại đây)
Tuần Thánh năm nay tôi trải nghiệm ở vùng cao nguyên Pleiku, nơi vùng tôi đến có nhiều giáo điểm của cả người Kinh lẫn người Dân tộc. Sợ tôi không quen, hơn nữa khí hậu mùa hẻ nóng nực, anh em bảo tôi ở lại điểm lớn nơi nhà cửa tạm ổn định, cộng đoàn giáo hữu đông đảo và các phương tiện tương đối tốt hơn các giáo điểm khác, tuy nhiên cuối cùng tôi vẫn được vào dâng lễ Chúa nhật Phục Sinh ở một ngôi làng không hẻo lánh mấy trên đường đi Pleime nhưng rất nhỏ bé, đơn sơ, thiếu thốn đủ điều.
 Ngay khi đọc tên Pleime với chiều dài đường 20 km trên cột cây số, lòng tôi đã rộn ràng nghĩ về những trận đánh ác liệt trên vùng cao này, trong đó Pleime là tên tuổi gây kinh hoàng cho tuổi trẻ chúng tôi ngày ấy, tôi nhớ đến những người bạn nằm xuống vĩnh viễn trên cao nguyên đầy lửa đạn vì cuộc chiến tranh phi lý huynh đệ tương tàn. Tôi cầu nguyện cho họ được bình an, cả “bên thắng” lẫn “bên thua cuộc”, tôi nhắc lòng sẽ cầu nguyện đặc biệt trong Thánh lễ sáng nay.
 Làng Ia Drieng đón tôi bằng một khung cảnh mộc mạc, một mảnh đất bằng phẳng không cây không cỏ, chỉ có đất đỏ và một ngôi nhà nguyện nhỏ bé nghèo nàn rêu phong rệu rã, chân tường đỏ kè vì mưa làm văng đất đỏ lên. Dân làng ngơ ngác trước một ông to lớn quần áo tươm tất, họ nhìn tôi chăm chú và chắc họ đoán là ông cha đến dâng lễ chứ người làng đâu có ai “béo tốt” như vậy ! Nhưng không ai đám lại gần vì hình như giữa tôi và họ khác nhau quá, những mái đầu rối bù, những bộ quần áo cũ kỹ với lớp hoa văn sặc sỡ đã phai nhạt theo thời gian. Tôi hiểu thế nào và vì sao những người anh em của tôi trên các vùng truyền giáo luôn chọn lựa một thái độ ứng xử, một cách sinh hoạt xem ra không hợp mấy với người thành phố, để gần với anh em mình, mình phải nên như họ.
 Khi cho chịu lễ chúng tôi đặt tay chúc lành cho các em bé chưa đến tuổi được rước lễ và các anh chị em dự tòng chưa đến ngày thanh tẩy. Ở thành phố, tôi thường tủm tỉm cười khi bọn con trai hầu hết mang đầu đinh, tóc ướt đẫm mồ hôi vì nghịch ngợm, ngay cả khi lên để được chúc lành chúng vẫn nghịch, tay tôi chạm vào những đầu tóc lởm chởm. Các em làm tôi nhớ đến tuổi thơ năm xưa của mình, cũng nghịch không kém, cũng ướt át áo quần không kém các em ngày nay. Bọn con gái thì ngoan hơn, nhu mì hơn, nhưng nhiều lúc tôi phải phì cười vì những cái áo theo thời trang của người lớn, quá người lớn, có em mặc áo hai dây mà cũng có em chẳng có dây nào, xúng xính đi lên như người lớn, thậm chí tóc còn xịt keo bóng lộn!
 Bọn trẻ Dân tộc ở các làng quê thì khác, con trai cũng như con gái, tóc cháy vàng vì nắng gió, rít rịt vì hình như không gội đầu, hoặc có gội thì chẳng có sữa gội, vẫn bọn con trai với cái dầu loay hoay không yên, vẫn bọn con gái mắt mở to ngơ ngác nhìn Ama (Cha) lạ chúc lành cho chúng, có đứa chẳng chịu cúi mà còn ngước nhìn, không có chỗ cho sự đặt tay vì chúng cứ nhìn Ama lạ. Hôm ở Ia Drieng, một bà mẹ Dân tộc bế con lên chịu lễ, cho bà rước lễ xong tôi đặt tay chúc lành cho đứa bé, nhưng nó nhất định không chịu, quay đi khi tôi cố với đặt tay cho nó, cuối lễ ra ngoài sân tôi gặp lại hai mẹ con, thằng bé đang khóc thút thít, tôi hỏi tại sao cháu khóc, bà mẹ trả lời bằng một tràng tiếng dân tộc tôi không hiểu, khi có người dân tộc khác đến nói chuyện, anh ta cho tôi biết nó đang hờn mẹ nó vì chưa được chúc lành, sở dĩ nó không cho tôi chúc lành vì tôi không phải là Ama của nó, Ama của nó là vị linh mục đang chịu trách nhiệm vùng truyền giáo này, đối với nó như thế là hôm nay nó chưa được chúc lành. Tôi nhớ lại ý kiến của một linh mục trẻ đang dấn thân trên miền truyền giáo, ngài chia sẻ với tôi rằng “phải trở nên người Dân tộc, là người Dân tộc, được người Dân tộc thương, lúc đó mới nói Tin Mừng được”.
Trong mỗi chuyến đi lên vùng cao nguyên, tôi bị trăn trở vì mênh mông những bản làng chưa biết Chúa, tôi bị thôi thúc rất nhiều vì trùng điệp núi đồi chưa có ánh sáng Tin Mừng, tôi biết nhiều anh chị em linh mục tu sĩ đã dấn thân miệt mài cho công cuộc truyền giáo, tôi biết nhiều anh chị em tín hữu đã hiến dâng đời mình cho việc loan báo Tin Mừng, nhưng còn nhiều quá, quá nhiều những con người cần được ánh sáng Tin Mừng chiếu soi, quá nhiều núi đồi cần bóng thập giá. Ước gì chúng ta bớt đi những phí uổng công sức cho những nơi thừa bứa tiện nghi, ước gì chúng ta bớt đi những vấn đề không đáng đã làm hao tổn công sức của Giáo Hội, để Giáo Hội dồn sức cho hơn nữa những vùng cần đến lời Chúa, cần đến ơn cứu độ.
 Ước gì chúng ta bớt chăm chút cho hình dáng bên ngoài của những cộng đồng miền xuôi, để chia ít nhiều cho những ngôi nhà nguyện lụp sụp tăm tối, những nơi không có nhà nguyện phải che mảnh nhựa dâng lễ trong sân nhà một Bok (già làng) nào đó, những nơi chị em Dân tộc phải địu con thơ đi bộ nhiều cây số để tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật, rồi trở về dưới cái nắng gay gắt của miền cao.
Tôi trở về thành phố nhưng vẫn mang theo những cái đầu tóc cháy vàng rít rịt, những mái tóc cứng như rễ cây xoắn tít vào nhau, cái cảm giác nham nhám và khô cứng theo tôi mãi, tôi như đang chạm vào những thảm lá vàng của múa thu nào đó, chẳng lẽ cứ mãi là mùa thu ?
 Lm. Vĩnh Sang, dcct.

BÌNH AN


Sau khi sống lại, mỗi lần hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đều chào các ông "Bình an cho các con". Đây là lời chào thông thường của người Do thái "Shalom". Giáo hội cũng bắt chước lối chào đó, trong Thánh lễ, Chủ tế chào giáo dân "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em", và giáo dân chào lại "Và ở cùng Cha", nghĩa là "Và cũng xin bình an của Chúa hằng ở cùng Cha". Xét ra lời chào này hơi lạ so với những kiểu chào mà chúng ta quen biết, nhưng có ý nghĩa nhiều hơn. Quả thực. Bình an là điều quý nhất mà chúng ta cần có và cũng là điều tốt nhất mà chúng ta cầu chúc cho nhau. Nhưng bình an là gì mà quý như vậy? và làm thế nào để có được bình an? Đó là điều mà chúng ta sẽ đưa vào bài Tin Mừng hôm nay để tìm hiểu.
Khi ấy các môn đệ đang sợ: Thầy đã bị bắt và bị giết chết rồi. Rất có thể tới phiên các ông cũng sẽ bị bắt và bị giết như vậy. Cho nên họ sợ, và họ trốn trong nhà đóng kín cửa lại. Rồi Chúa Giêsu hiện đến ở với họ, trò chuyện với họ, cho họ xem các vết thương, ăn uống với họ, khích lệ họ... Thế là họ không còn sợ nữa. Họ được bình an. Nhưng do đâu mà họ được bình an? Có phải là vì nguy hiểm đã qua đi rồi chăng? Thưa không, nguy hiểm vẫn còn đó, kẻ thù vẫn còn vẫn đang tìm cách hãm hại các ông. Nhưng nay họ không sợ nữa là vì họ biết đã có Chúa ở bên cạnh họ. Có Chúa bên cạnh thì mọi nguy hiểm không còn làm họ nao núng nữa. Thực ra họ chưa hoàn toàn bình an đâu. Sau khi Chúa Giêsu biến đi thì họ lại sợ, lại đóng cửa trốn. Có lần họ cũng đánh bạo cùng nhau đi đánh cá. Nhưng mới thấy có một cái bóng đen tiến đến là họ lại sợ, họ tưởng là ma. Và khi biết đó là Chúa thì họ lại hết sợ. Mãi tới khi Chúa Giêsu nói với họ trước khi về trời rằng: "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế", thì họ mới hết sợ hoàn toàn, họ mới hoàn toàn được bình an. Kể từ đó trở đi, các môn đệ mạnh dạn ra đi rao giảng. Người ta bắt, họ cũng không sợ, người ta tra tấn, họ không sợ mà còn vui mừng vì được chịu khổ vì Thầy; người ta xử tử, họ vẫn bình an vui sướng vì được giống như Thầy.
Như vậy, Bình an tức là một sức mạnh, một nơi nương tựa, một nguồn an ủi khiến ta không nao núng sợ sệt dù phải đứng trước bất cứ gian truân nguy hiểm nào. Bình an ấy có được khi ta ý thức có Chúa vẫn ở bên cạnh mình.
Giống như một em bé. Em đang chơi vui vẻ thì trời đổ mưa lớn. Sấm chớp ầm ầm, em hoảng sợ khóc thật lâu. Nhưng mẹ em đã đến, bế em vào lòng, em cuộn mình trong lòng mẹ và ngủ thiếp đi. Sau đó dù mưa vẫn cứ rơi, sấm chớp vẫn cứ ầm ầm, nhưng em vẫn ngủ yên vì em đang ở trong vòng tay che chở của mẹ. Đó là một hình ảnh rất đẹp giúp ta hiểu thế nào là sự bình an.

Phần chúng ta, nếu chúng ta luôn ý thức có Chúa ở bên cạnh mình, và ta luôn nương tựa vào Chúa như em bé nương tựa vào mẹ nó thì chúng ta cũng sẽ luôn được bình an.
Có một gia đình nọ, nhà nghèo, lao động thật là vất vả, tính toán làm ăn rất là lo âu. Nhưng chiều về, vợ chồng con cái đều quây quần trước bàn thờ gia đình và cùng đọc kinh tối chung. Họ dâng lên Chúa những lao nhọc trong ngày, họ xin Chúa thứ tha những vấp váp lỗi lầm đã phạm, họ phó dâng cuộc sống cùng tất cả mọi âu lo cho Chúa. Sau đó họ lên giường ngủ. Bình an! Biết bao gia đình khác cũng lao động vất vả như họ, cũng lo âu toan tính như họ, nhưng các gia đình đó không có được một giấc ngủ bình an. Chỗ khác nhau là một bên có Chúa và biết sống với Chúa, còn một bên thì không.
Hay như một cụ già kia đang hấp hối, cái chết gần kề mà vẫn bình thản sẵn sàng buông tay nhắm mắt ra đi không hề sợ sệt, vì cụ già ấy biết rằng mình ra đi là ra đi trong tay Chúa. Trong khi có biết bao nhiêu người khác đối diện với cái chết mà lòng hoang mang sợ hãi, họ sợ không dám ra đi, vì họ không biết đi về đâu, họ không có Chúa cùng đi với họ.
Kinh nghiệm mà các môn đệ đã trải qua là một bài học quý giá cho chúng ta. Sau khi Chúa Giêsu bị quân thù bắt giết đi, các ông đã sợ hãi trốn kín trong phòng đóng cửa lại, sợ vì cảm thấy cô thế không có Thầy nâng đỡ. Nhiều lần chúng ta gặp cảnh túng thiếu, gian truân, hiểm nguy, chúng ta cũng sợ hãi như thế, chúng ta muốn rút lui trốn tránh, chúng ta muốn ngã lòng, là vì chúng ta không có Chúa ở với mình. Nhưng khi các môn đệ đã biết có Chúa ở bên cạnh họ, cho dù Chúa chỉ hiện diện một cách vô hình sau khi Chúa đã về trời, các ông không còn sợ nữa mà lòng luôn bình an dù phải đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Thì chúng ta cũng thế: Chúa hằng ở bên cạnh chúng ta nếu chúng ta ý thức được điều đó, nếu chúng ta biết tin yêu phó thác vào Chúa và làm việc gì chúng ta cũng nghĩ là có Chúa cùng làm với chúng ta thì chúng ta cũng sẽ luôn được bình an.
Nguyện chúc bình an của Chúa hằng ở cùng chúng ta luôn mãi. Amen.
Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái